(MK - ASEAN) – Tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại Việt Nam từ cuối tháng 4/2021, để ứng phó với dịch, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương thực hiện giãn cách xã hội, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề.

Đại dịch COVID-19 đã và đang càn quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ lên nền kinh tế thế giới và Việt Nam. Do tác động của COVID-19, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu năm 2020 được Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đánh giá sẽ thu hẹp “từ mức 1.540 tỷ USD năm 2019 xuống dưới 1.000 tỷ USD”.  

Từ đánh giá FDI thu hẹp, cho thấy yêu cầu cần thiết thu hút FDI phải gắn kết được với khu vực tư nhân trong nước, đưa doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vào trong mạng lưới của họ. Cần trải thảm với những quốc gia trong khu vực, tuy nhiên cũng cần cho họ thấy được Chính phủ đã nỗ lực trong việc kiểm soát dịch bệnh và tạo được môi trường an toàn, đảm bảo cho việc đầu tư. 

Việt Nam chưa có một quy hoạch hay chiến lược cụ thể nào để thúc đẩy sự tương tác, liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Số dự án chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước hiện nay rất hiếm hoi và được thực hiện một cách cục bộ giữa các doanh nghiệp hoặc địa phương. Để phát huy tối đa hiệu quả nguồn vốn FDI cũng như đón cơ hội hội nhập, các doanh nghiệp Việt cần nâng cao năng lực, tăng tính kết nối với doanh nghiệp FDI và giữa doanh nghiệp nội với nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. 

Dự án Nhà máy điện LNG Long An I và II của nhà đầu tư Singapore, có tổng vốn đầu tư đăng ký lên tới 3,1 tỷ USD

Tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại Việt Nam từ cuối tháng 4/2021, để ứng phó với dịch, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã phải thực hiện giãn cách xã hội, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp FDI.  Đợt dịch lần thứ 4 đã đánh trực tiếp vào các trung tâm công nghiệp lớn của cả nước như TP. Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương… là những nơi tập trung nhiều doanh nghiệp FDI, khiến các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, làm đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất, nhiều doanh nghiệp bị đảo lộn sản xuất kinh doanh, có doanh nghiệp phải dừng một phần, thậm chí toàn bộ hoạt động.

Cho đến nay, dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, khả năng dòng vốn FDI phục hồi là rất mịt mờ.

Tuy nhiên, có thể nói, tuy đại dịch đem đến những khó khăn, thách thức, nhưng đồng thời cũng đem đến cơ hội. Quốc gia nào biết tận dụng cơ hội sẽ có khả năng vươn lên mạnh mẽ sau đại dịch. Trong 9 tháng đầu năm 2021, dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam vẫn đạt 22,15 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2020, cho thấy môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam vẫn tạo sức hút lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. 

Thời gian qua, rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn bày tỏ sự lạc quan vào môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam; đồng thời khẳng định, Việt Nam sẽ vẫn là sự lựa chọn ưu tiên khi triển khai các dự án đầu tư mới và mở rộng.

2 chỉ số được đánh giá là điểm sáng trong bức tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 9 tháng đầu năm là dòng vốn đăng ký mới và tăng thêm.

Hiện có 97 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, trong đó Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 7,51 tỷ USD, chiếm 31,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,42 tỷ USD, chiếm 14,6%. Trung Quốc đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,17 tỷ USD, chiếm 9,2%. Tiếp theo là Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc)…

Hội Phát triển Hợp tác Kinh tế Việt Nam – ASEAN (VASEAN) cho hay trong bối cảnh dịch Covid-19 tác động mạnh mẽ đến các nền kinh tế trên thế giới, những con số đáng khích lệ từ dòng vốn đăng ký mới và tăng thêm trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI của Việt Nam có nhiều ý nghĩa. 

Trong đó, việc 2 quốc gia trong khu vực là Singapore và Thái Lan nằm trong Top đầu tư FDI vào Việt Nam đã tiếp tục cho thấy sự chuyển dịch dòng vốn đầu tư trong khu vực ASEAN đã và đang tiếp tục hướng đến Việt Nam; Cùng với đó, thế giới và ASEAN tiếp tục ghi nhận đánh giá cao công cuộc chống dịch Covid-19 của Việt Nam, đã đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà đầu tư, bất chấp những khó khăn trong đại dịch.

Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn rất coi trọng môi trường đầu tư ở Việt Nam, điển hình như năm 2021, bất chấp diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Nestlé vẫn tăng vốn đầu tư thêm 132 triệu USD cho dự án nhà máy tại Đồng Nai để tăng gấp đôi công suất sản xuất cà phê hòa tan phục vụ xuất khẩu và để các sản phẩm thực phẩm dạng lỏng chuyên cung ứng cho thị trường xuất khẩu ở khu vực châu Á và châu Úc.

“Chúng tôi luôn coi Việt Nam là thị trường quan trọng và then chốt với sự phát triển dài hạn của mình. Trong tương lai, chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng đầu tư và đóng góp hơn nữa cho tăng trưởng bền vững và phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam” – ông Binu Jacob – Tổng giám đốc Nestlé Việt Nam khẳng định.

Kết quả thu hút FDI 9 tháng thể hiện sức hút của môi trường đầu tư Việt Nam, sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài vào công tác phòng, chống dịch bệnh và khả năng phục hồi kinh tế, cũng như tính hiệu quả trong các giải pháp đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút đầu tư của Chính phủ thời gian qua.

Tựu chung, trước tác động của đại dịch COVID-19 lên nền kinh tế, để thu hút FDI vào Việt Nam, sẽ cần Chính phủ nhanh chóng đưa ra các chính sách tiền tệ, tài khóa, an sinh xã hội nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của cú sốc COVID-19. 

Ngoài sự cần kíp những quyết sách linh hoạt, kịp thời của TW, doanh nghiệp cũng rất mong đợi sự vào cuộc quyết liệt của các địa phương trong thu hút FDI, cần sự đồng hành của chính quyền cùng doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc để doanh nghiệp khôi phục sản xuất an toàn. Đồng thời, trao quyền chủ động cho doanh nghiệp trong lựa chọn phương án phục hồi sản xuất, tiếp tục tạo môi trường thuận lợi để các DN FDI đầu tư.

Ngoài ra, doanh nghiệp trông đợi chính quyền có các phương án tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, chuyên gia vào làm việc và khảo sát, tìm hiểu môi trường đầu tư, lắng nghe và thực hiện cải cách hành chính, trong đó, có nhiều thủ tục có thể rút ngắn, tạo thuận lợi về thủ tục, cơ chế, ưu đãi về thời gian cho nhà đầu tư…

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *