(MK - ASEAN) - Sáng 15/10/2020 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020- 2025 chính thức khai mạc. Đại hội vinh dự đón tiếp đồng chí Trương Hoà Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ thay mặt Bộ Chính trị - Ban Bí thư đến dự và trực tiếp chỉ đạo Đại hội; đồng chí Trương Vĩnh Trọng, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Lê Văn Dũng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt Trận Tổ Quốc; lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; quý Mẹ Việt Nam anh hùng; các đồng chí đại diện lãnh đạo các sở - ban - ngành - đoàn thể tỉnh; đại diện các chức sắc tôn giáo; cùng với 350 đại biểu là những đảng viên ưu tú, tiêu biểu từ 13 Đảng bộ trực thuộc đến tham dự Đại hội.

Đại hội được tiến hành theo phương châm Dân chủ – Kỷ cương – Đồng thuận – Sáng tạo – Phát triển, với chủ đề: Phát huy sức mạnh đoàn kết Nhân dân, tinh thần Đồng Khởi; tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; phát triển Bến Tre về hướng Đông, huy động mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững; phấn đấu xây dựng Bến Tre thành tỉnh phát triển khá của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vào năm 2025 và của cả nước vào năm 2030.

Phát biểu tại Đại hội, đồng chí Phan Văn Mãi, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã nói: “Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI có nhiệm vụ rất quan trọng là kiểm điểm, đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X; quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030; thảo luận, góp ý vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; lựa chọn, bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XI và Đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh dự Đại hội XIII của Đảng”.

“Kinh tế – xã hội cũng có sự chuyển biến khá toàn diện, rút ngắn được “khoảng cách tụt hậu” với khu vực và cả nước. Kinh tế tăng trưởng khá, bình quân đạt 6,41%/năm, một số lĩnh vực phát triển nhanh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; thu ngân sách và huy động nguồn lực tăng khá; GRDP bình quân đầu người ước đạt 43,6 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo còn 4,59%. Cơ sở vật chất, kỹ thuật được tăng cường; diện mạo đô thị và nông thôn có nhiều đổi mới; văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội, công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực, mức sống của người dân Bến Tre ngày càng được nâng cao và xếp thứ 8 khu vực ĐBSCL” – đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ chia sẻ thêm.

Phát biểu tại Đại hội, đồng chí Phan Văn Mãi, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bến Tre

Đồng chí Trần Ngọc Tam, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy tóm tắt báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X, tổng kết tình hình và kết quả thực hiện như sau:

Lãnh đạo thực hiện tốt phương châm “Toàn Đảng làm công tác tư tưởng, toàn hệ thống chính trị làm công tác tuyên truyền”; nội dung, phương pháp tuyên truyền được đổi mới phù hợp với từng đối tượng, tính chiến đấu, tính giáo dục, thuyết phục được nâng lên.

Đổi mới phương pháp tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp sở, ngành tỉnh và cấp phòng; định kỳ rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ, xây dựng, bổ sung kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đương chức và trong quy hoạch; xây dựng Đề án đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2018 – 2025, định hướng đến năm 2030.

Phương thức lãnh đạo có nhiều đổi mới, tăng cường công tác lãnh đạo của Tỉnh uỷ và các cấp uỷ đối với cơ sở thông qua việc cử cán bộ tỉnh, huyện về phụ trách và chỉ đạo cơ sở với phương châm “Tỉnh nắm tới xã, huyện nắm tới ấp, xã nắm đến hộ gia đình”; trách nhiệm của cấp ủy viên và người đứng đầu được phát huy. Công tác phát triển đảng viên mới được tập trung lãnh đạo, đã kết nạp 9.020 đảng viên (Nghị quyết: 8.000 – 8.500 đảng viên), trong đó có chú trọng kết nạp đảng viên lớp “Đồng Khởi mới”; chất lượng đảng viên mới được nâng lên, tiến hành sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên bỏ sinh hoạt đảng theo quy định.

Về quốc phòng – an ninh được tăng cường; chính trị – trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và dân sinh.

Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng có bước đổi mới và hiệu quả hơn; phát huy tốt vai trò tập hợp, giáo dục truyền thống, giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho đoàn viên, hội viên, thanh niên; củng cố, tăng cường khối đoàn kết, thống nhất và sự đồng thuận của các tầng lớp Nhân dân. Nhiều phong trào thi đua yêu được triển khai rộng khắp, nhất là phong trào thi đua “Đồng khởi mới”, “Đồng khởi khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp” trong thanh niên, phong trào trữ nước mưa, nước ngọt, “Ngày Chủ nhật nông thôn mới”, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo và thực hiện chính sách an sinh xã hội được đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia tích cực; góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân 05 năm ước đạt 6,41%/năm (Nghị quyết: 7- 7,5%/năm). Trong đó, khu vực I tăng 3,92% /năm, khu vực II tăng 10,44% /năm, khu vực III tăng 6,75% /năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; GRDP bình quân đầu người ước đạt 43,6 triệu đồng. Ngành nông nghiệp được đầu tư và phát triển khá toàn diện với giá trị xuất khẩu sản phẩm từ dừa đạt 265 triệu USD (chiếm 22% tổng kim ngạch xuất khẩu). Cây ăn trái chuyển đổi theo hướng chuyên canh, cây đặc sản có giá trị kinh tế cao phục vụ nhu cầu xuất khẩu, tiêu thụ trong nước, gắn phát triển du lịch; các chuỗi giá trị bưởi da xanh, chôm chôm, nhãn, hoa kiểng,… Giá trị sản xuất nông nghiệp (khoảng 53,5%), nhiều mô hình kết hợp hiệu quả trong kinh tế vườn, thuỷ sản được nhân rộng. Giá trị sản phẩm trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản năm 2019 đạt 160,72 triệu đồng/ha, tăng 38,86 triệu đồng/ha so với năm 2015. Công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng được thực hiện khá tốt.

Chương trình xây dựng nông thôn mới phát triển khá, đạt 55/45 xã; có 80 xã đạt từ 10 đến 18 tiêu chí. Huyện Chợ Lách đạt chuẩn Nông thôn mới; thành phố Bến Tre hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới; kết quả đó làm cho đời sống Nhân dân và diện mạo nông thôn tiếp tục khởi sắc.

Công nghiệp – xây dựng tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 11,6%/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến và các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Giá trị sản xuất trong các khu, cụm công nghiệp chiếm 61,8% giá trị sản xuất công nghiệp và 66,5% tổng kim ngạch xuất khẩu; tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp đến cuối năm 2020 ước đạt 30%, tăng 7,2 điểm % so với năm 2016; giải quyết việc làm cho khoảng 38.000 lao động. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 204.274 tỷ đồng, tăng bình quân 11,8%/năm.

Thị trường xuất khẩu của tỉnh mở rộng trên 126 nước và vùng lãnh thổ, tăng tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến và một số sản phẩm có giá trị cao. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 5.074 triệu USD, đạt 89,6%, tăng 12,8%/năm; tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 2.059,8 triệu USD, đạt 114,4%, trong đó tỷ trọng hàng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp xuất khẩu chiếm bình quân 82,9% trên tổng kim ngạch xuất khẩu. Thu hút đầu tư với số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 1.088 triệu USD, tăng 2,36 lần và vốn đầu tư trong nước ước đạt 68.414 tỷ đồng, tăng 4,28 lần so với nhiệm kỳ trước.

Bên cạnh đó, cũng còn nhiều hạn chế đến từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:

Nguyên nhân khách quan: Nguồn vốn đầu tư phát triển chưa đáp ứng yêu cầu; thiếu đồng bộ trong liên kết vùng về hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, logistics và xây dựng vùng nguyên liệu; ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết thất thường; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; thị trường giá cả các mặt hàng nông sản thiếu ổn định. Đặc biệt trong năm 2020, Bến Tre đã gặp rất nhiều khó khăn do chịu tác động kép của đợt hạn mặn khốc liệt, kéo dài và đại dịch Covid-19 làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của tỉnh, nhất là chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, GRDP bình quân đầu người và kim ngạch xuất khẩu…

Nguyên nhân chủ quan: Chưa đảm bảo các nguồn lực, điều kiện cần thiết cho việc triển khai thực hiện có hiệu quả. Chưa cân đối, bố trí được nguồn vốn đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp, thiếu quỹ đất sạch để thu hút đầu tư; chưa thu hút được những tập đoàn lớn đầu tư vào tỉnh và chưa có được những doanh nghiệp dẫn đầu; sự phối hợp giữa các ngành với địa phương chưa chặt chẽ, đồng bộ.

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực đã nói: “Có thể khẳng định rằng, Đảng bộ và Nhân dân Bến Tre đã tạo được những tiền đề rất căn cơ và quan trọng để Bến Tre phát triển nhanh hơn trong thời gian tới, đồng thời đóng góp tích cực vào phát triển chung của cả nước. Nhất trí với Chủ đề Đại hội Đảng bộ Bến Tre lần thứ XI, các nội dung đã nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội, về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu trong 5 năm tới. Để đạt được những mục tiêu đề ra đòi hỏi toàn Đảng bộ phải đoàn kết, thống nhất hơn nữa, có quyết tâm rất cao, tạo bước đột phá để phát triển; cùng nhau xây dựng một tinh thần, một ý chí khát vọng vươn lên mạnh mẽ, quyết không thua kém, tụt hậu so với các tỉnh, thành phố trong vùng và cả nước. Đại hội phải xác định nhiệm kỳ tới dù là thời cơ, thuận lợi, hay khó khăn, thách thức đều là động lực thôi thúc toàn Đảng bộ và Nhân dân trong tỉnh nỗ lực hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đề ra”.

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ

“Cần phải triển khai 4 trụ cột chiến lược: Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, gắn với thị trường, xem đây là nền tảng ổn định kinh tế – xã hội; Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng, xem đây là mũi đột phá giúp đẩy nhanh tăng trưởng; Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là mũi đột phá tương lai của tỉnh; Nâng cao chất lượng cuộc sống, kiến tạo môi trường xanh bền vững, hướng tới xây dựng địa phương đáng sống. Xác định rõ hơn vị trí, vai trò của Bến Tre để xây dựng, quản lý quy hoạch không gian phát triển với tầm nhìn mở, liên kết chặt chẽ với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long.”- đồng chí Phó Thủ tướng Thường trực nói thêm.

Mục tiêu, phương hướng của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XI

Phấn đấu xây dựng Bến Tre trở thành tỉnh phát triển khá (top 6) của vùng đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2025 và của cả nước (top 30) vào năm 2030.

Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp của tỉnh; phát triển các chính sách: nghiên cứu thổ nhưỡng, quản lý‎ và bảo hộ thương hiệu, về chuỗi giá trị, phát triển quỹ đất, thu hút đầu tư du lịch, phát triển số, bảo vệ môi trường. Phấn đấu đưa chỉ số PAR-Index vào top 30

Huy động mọi nguồn lực, đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số. Phát triển nguồn nhân lực phù hợp với Tầm nhìn chiến lược phát triển tỉnh đến năm 2030 và 2045.

Để đạt mục tiêu trên, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân Bến Tre thống nhất quán triệt phương châm hành động xuyên suốt nhiệm kỳ 2020- 2025 là Dân chủ – Kỷ cương – Đồng thuận – Sáng tạo – Phát triển.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ XI diễn ra trong 03 ngày, từ ngày 14 đến 16/10/2020 tại Hội trường lớn Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, thành phố Bến Tre.

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *