(TBMK) – Để phát triển cơ cấu nông nghiệp theo hướng gia tăng chuỗi giá trị, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã tích cực tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và đẩy mạnh chuyển giao những tiến bộ khoa học – kỹ thuật giúp cho nhà nông sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích. Đồng thời, quy hoạch từng vùng sản xuất phù hợp với thổ nhưỡng địa phương; trong đó, mô hình đa canh tổng hợp trồng khóm – tôm – lúa là một điển hình.

Theo thống kê, đến nay, toàn huyện Gò Quao đã phát triển thêm 600 ha khóm, nâng tổng số diện tích trồng khóm toàn huyện lên hơn 4.300 ha, tập trung ở các xã Vĩnh Thắng, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Thới Quản và Vĩnh Phước A. Theo đó, có gần 3.000 ha ở xã Vĩnh Phước A và Vĩnh Thắng được thực hiện theo mô hình đa canh tổng hợp trên liếp trồng khóm, dưới mương nuôi tôm sú và trên bệ (mé liếp) trồng lúa mùa.

Ông Lâm Quốc Nam – Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Phước A cho biết, do đặc thù địa bàn đất bị nhiễm phèn mặn nên xã chỉ tập trung phát triển kinh tế đi lên từ cây khóm. Hiện nay, toàn xã có 2.600 ha diện tích trồng khóm, trong khi đó chỉ có 260 ha diện tích chuyên trồng lúa. 

Bao năm nhọc nhằn với cây khóm, nông dân bắt đầu đi tìm tòi học hỏi để không bỏ phí nguồn nước từ các mương liếp. Họ bắt đầu quyết định cải tạo để nuôi tôm sú. Do trước đây, người dân sau khi thu hoạch khóm rồi vứt cây, lá xuống mương làm ô nhiễm nguồn nước nên tôm nuôi bị chết hoặc chậm lớn. Rút kinh nghiệm, người dân cải tạo lại mương nước sạch và nuôi thành công. Đặc thù nuôi con tôm sú trong mương khóm là không cần cho thức ăn hay bất cứ loại phân thuốc nào, tôm nuôi hoàn toàn sạch nên bán được giá cao. Sau khi thành công với mô hình nuôi tôm dưới mương khóm, người dân bắt đầu thử nghiệm trồng lúa trên bệ.

Ông Lê Minh Mão, ngụ ấp Bùi Thị Thêm, xã Vĩnh Phước A chia sẻ, trước đây trồng 1 ha khóm thu nhập khoảng 70 triệu đồng, thì nay thêm nguồn thu từ trồng lúa cặp mé dứa sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng 3 triệu đồng/ha, từ con tôm nuôi dưới mương từ 13-15 triệu đồng/ha. Nguồn thu phụ từ tôm sẽ giúp chi phí phân bón trong một năm cho cây khóm, còn lúa cung cấp gạo sạch đủ ăn cho gia đình trong một năm mà còn có gạo sạch bán để có thêm nguồn thu phụ để trang trải một phần chi phí sinh hoạt trong gia đình.

Mô hình đa canh tổng hợp trồng khóm – tôm – lúa nông dân xã Vĩnh Phước A (huyện Gò Quao)

Ông Dương Duy Duyệt – Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Quao cho hay, theo kế hoạch, diện tích khóm sẽ tiếp tục được quy hoạch tăng lên trên 5.000 ha và định hướng phát triển theo mô hình khóm – tôm – lúa cũng dần tăng lên, đến năm 2025 sẽ tăng lên diện tích theo mô hình này là 50% và nhân rộng ra các xã có diện tích trồng khóm còn lại trên địa bàn.

Từ khi thành lập tổ hợp tác và giờ là hợp tác xã (HTX), người dân bắt đầu có thói quen làm gì cũng theo ý kiến tập thể nên năng suất chất lượng sản phẩm làm ra cao hơn. Đến nay, HTX Phước An đã thu hút được 60 thành viên canh tác diện tích trên 100 ha với mô hình “3 trong 1”.

HTX Phước An còn nhân giống con khóm để bán ra các địa phương khác tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động địa phương, với thu nhập bình quân 200.000-250.000 đồng/người/ngày. Hiện trong HTX Phước An, người có thu nhập cao nhất 700 triệu đồng/năm, còn thấp nhất cũng 70 triệu đồng/năm và đến nay chỉ còn 5 hộ trong HTX còn khó khăn. Qua đó đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo chung cho toàn xã Vĩnh Phước A xuống còn 3,17% vào cuối năm 2019 thay vì 9,6% năm 2015.

Mô hình sản xuất đa canh tổng hợp khóm – tôm – lúa là mô hình đặc trưng phù hợp với vùng sinh thái ở một số xã của huyện Gò Quao. Đây cũng có thể xem là mô hình sản xuất sinh thái và cho hiệu quả cao trên cùng một diện tích canh tác. Bình quân canh tác một năm trên diện tích 1 ha, sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư cho sản xuất, nông dân trong mô hình này lợi nhuận khoảng 100 triệu đồng. Chính vì vậy, những năm qua mô hình này đã giúp  nông dân có thêm việc làm, nâng cao thu nhập trên cùng một diện tích, nhiều hộ thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu trên quê hương mình.

Để mô hình phát triển bền vững, các yếu tố cần thiết để giúp cho vùng sản xuất ở đây, trước hết phải có chứng nhận sản phẩm an toàn bằng các tiêu chuẩn VietGAP. Xa hơn nữa là sản xuất theo hướng hữu cơ và gắn với xây dựng hệ thống lịch sử truy xuất nguồn gốc, minh bạch hóa quá trình sản xuất để tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Những yếu tố đó sẽ giúp kết nối thị trường, các doanh nghiệp thu mua sẽ tìm đến để bao tiêu cho bà con làm ra sản phẩm, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho người dân.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *