(MK-ASEAN) – Đề án Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 có xét đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) về cơ bản đã hoàn thành, kết quả nghiên cứu của Đề án chỉ ra rằng xu hướng truyền tải điện sẽ có nhiều thay đổi trong thời gian tới…

Tại Khách sạn Metropole Sofitel (Hà Nội), ngày 28/9, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương phối hợp với Viện Năng lượng tổ chức Hội thảo giới thiệu rộng rãi về Đề án “Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Dự hội thảo có các ông: Hoàng Quốc Vượng – Thứ trưởng Bộ Công Thương, Hoàng Tiến Dũng – Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Trần Kỳ Phúc – Viện Trưởng Viện Năng lượng; cùng nhiều nhà quản lý, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghiệp điện lực.

Toàn cảnh hội thảo (ảnh: Phương Thảo)

Thời gian vừa qua, ngành điện đối mặt với rất nhiều thách thức lớn, như nhu cầu điện  đang tăng trưởng cao, sự phát triển của nguồn điện không cân đối với nhu cầu phụ tải giữa các vùng miền, hệ số đàn hồi điện/GDP còn ở mức cao; Cơ chế giá điện chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thu hút được đầu tư, vấn đề bảo vệ môi trường vẫn đặt ra nhiều thách thức. Việc xây dựng Quy hoạch điện VIII dựa trên quan điểm Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ chính trị sẽ góp phần định hướng và phát triển vững chắc cho ngành điện Việt Nam. 

Quy hoạch điện VII và Quy hoạch điện VII điều chỉnh đã được đưa vào triển khai, thực hiện được gần 10 năm. Nhìn chung, tình hình thực hiện Quy hoạch đạt được nhiều kết quả tốt, đáp ứng cơ bản nhu cầu phụ tải với tốc độ tăng trưởng trung bình năm khoảng 10,5%/năm.

Theo Chương trình phát triển nguồn điện giai đoạn tới năm 2030, dự kiến tổng suất công suất nguồn điện sẽ tăng thêm khoảng gần 80.000 MW so với năm 2020. Trong đó, các nguồn điện lớn như các nhà máy nhiệt điện than, khí và LNG dự kiến sẽ tăng thêm khoảng trên 30.000 MW; các nhà máy điện gió onshore, offshore và điện mặt trời dự kiến tăng thêm khoảng gần 30.000 MW. Theo đánh giá của các chuyên gia, xu hướng truyền tải điện sẽ thay đổi, thay vì truyền tải điện từ miền Bắc vào miền Nam như những năm qua sẽ dịch chuyển theo chiều ngược lại.

Các nghiên cứu của Quy hoạch điện VIII sẽ được thực hiện theo 6 vùng: Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Theo đánh giá của Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng thì đây là quy hoạch có tính hệ thống rất cao, có sự gắn kết chặt chẽ với các quy hoạch ngành khác nhau như ngành than, dầu khí, sử dụng tài nguyên, môi trường, năng lượng tái tạo, giao thông, kinh tế xã hội, không gian đô thị… Chính vì vậy, với mong muốn xây dựng cơ được bản Quy hoạch điện VIII có hiệu quả, có tính khả thi khi đưa vào triển khai, thực hiện, đáp ứng sự mong mỏi của những cơ quan tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực điện lực cần có những cơ chế, chính sách cụ thể và rất đặc thù để có thể triển khai thành công các dự án điện nhằm đảm bảo cung cấp điện ổn định và an toàn phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới. 

Ông Hoàng Quốc Vượng – Thứ trưởng Bộ Công Thương phát biểu tại hội thảo (ảnh: Phương Thảo)

Theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia trong ngành điện lực, dự kiến tới năm 2030, công suất đặt toàn hệ thống dự kiến đạt khoảng 138.000 MW và tới năm 2045 khoảng 302.000 MW, trong đó ưu tiên phát triển nguồn năng lượng tái tạo.

Báo cáo về tiềm năng của nguồn năng lượng tái tạo, tổng tiềm năng đưa vào mô hình như sau: Điện gió onshore – tổng tiềm năng kỹ thuật 217 GW (trong đó gió cao >6m/s là 30 GW, gió thấp 4,5 – 5,5m/s xấp xỉ 163 GW), điện gió offshore – tổng tiềm năng kỹ thuật 160 GW; Điện năng lượng mặt trời – quy mô lớn mặt đất 309 GW, mặt nước 77 GW, áp mái 48 GW; ngoài ra còn các nguồn năng lượng tái tạo khác như: điện sinh khối, điện rác thải, điện địa nhiệt, điện thuỷ triều, điện khí sinh học… cũng đem lại những dấu hiệu tích cực. Các nguồn năng lượng tái tạo chủ yếu sẽ phát triển tại khu vực miền Trung và miền Nam. 

Chương trình phát triển lưới truyền tải điện sẽ được xây dựng để đảm bảo được đáp ứng tiêu chí N-1, riêng với các thành phố lớn sẽ được xây dựng để đảm bảo đáp ứng được tiêu chí N-2. Giai đoạn 10 năm tới, trên toàn quốc sẽ xây dựng mới 81 GVA công suất TBA 500kV và khoảng 12.000 km ĐZ 500kV; 83 GVA công suất TBA 220kV và 20.000 km Đz 220 kV. Đây sẽ là một thách thức rất lớn cho ngành điện với khối lượng đầu tư trung bình hàng năm cao gấp 2 lần năng lực hiện nay, nhu cầu vốn lên đến khoảng 13 tỷ USD/năm. Thêm vào đó nhu cầu về điện ngày càng tăng cao, nhưng các nguồn năng lượng sơ cấp ngày càng khan hiếm, để đảm bảo cung ứng điện tới năm 2030 Việt Nam dự kiến phải nhập khẩu khoảng 1,2 triệu tấn LNG, 35,1 triệu tấn than vào năm 2025 và tăng dần tới 8,5 triệu tấn LNG và 45 triệu tấn than vào năm 2030.

Để giải quyết những vướng mắc và khó khăn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng cho ngành điện, nhiều cơ chế chính sách đã được đề xuất, trong đó có Cơ chế đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư các dự án điện, Cơ chế xã hội hoá lưới điện truyền tải,… để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển ngành điện góp phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường bền vững đáp ứng các chỉ tiêu mà Việt Nam đã ký kết với quốc tế. 

Thực hiện: Lâm Phùng - Phương Thảo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *