(TBMK) – Mới đây, UBND tỉnh  Tiền Giang cùng phối hợp với Bộ NN&PTNT tổ chức hội nghị “Đánh giá năng lực và thúc đẩy công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản (NLTS) và cơ giới hóa nông nghiệp phục vụ cơ cấu lại ngành Nông nghiệp khu vực phía Nam”


Hội nghị đánh giá thực tế, ngoài một số ngành hàng lúa – gạo hay cá tra…, còn lại nhiều ngành hàng như trái cây, rau màu…thì sản phẩm qua chế biến sâu đều chiếm tỷ lệ rất thấp và đang là “điểm nghẽn” cho sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Chẳng hạn đối với Tiền Giang, dù có nhiều tiềm năng, lợi thế nhưng riêng đối với công nghiệp chế biến cũng còn nhiều hạn chế.

Theo ông Cao Văn Hóa, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Tiền Giang, nhìn chung ngành Nông nghiệp Tiền Giang những năm qua phát triển khá ổn định; vùng nguyên liệu đầu vào vừa cung ứng nội địa vừa xuất khẩu. Tuy nhiên, số lượng cơ sở chế biến NLTS trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng cơ bản đối với lúa và thủy sản, còn đối với trái cây và rau màu cũng còn rất nhiều hạn chế.

“Trong chặng đường sắp tới, ngành Nông nghiệp Tiền Giang sẽ tập trung phát triển theo hướng bền vững, bắt đầu từ việc thực hiện có hiệu quả chủ trương tái cơ cấu ngành Nông nghiệp; thu hút đầu tư, phát huy vai trò của doanh nghiệp, đi kèm là Nhà nước hỗ trợ cơ chế, chính sách; đồng thời, phát triển chuỗi giá trị các ngành hàng chủ lực của tỉnh.

thời báo mêkong
Một số sản phẩm nông nghiệp chế biến của Tiền Giang

Theo đó, ngành Nông nghiệp Tiền Giang sẽ hình thành các vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung; tổ chức sản xuất theo hướng chuỗi giá trị; chuyển giao ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sau thu hoạch; tiếp tục đầu tư hạ tầng và hạ tầng kỹ thuật; tiếp tục mời gọi đầu tư, thu hút doanh nghiệp và tăng cường đối thoại với doanh nghiệp, giảm thiểu các thủ tục hành chính”- Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Cao Văn Hóa cho biết.

Ông Nguyễn Quốc Toản, Quyền Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT), đã cho rằng, từ năm 2013 – 2017 công nghiệp chế biến nông sản đã có bước phát triển mạnh trên cả quy mô và mức độ hiện đại so với 5 năm trước (2007 – 2012), tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng hằng năm đạt 5% – 7%; đồng thời, đã hình thành hệ thống công nghiệp chế biến NLTS có công nghệ và thiết bị tương đối hiện đại.

Trên thực tế đã hình thành và phát triển hệ thống công nghiệp chế biến bảo quản nông sản có công suất thiết kế chế biến nông sản trên 100 triệu tấn nguyên liệu/năm, với trên 7.500 doanh nghiệp quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu.

Trong khi đó, công nghệ chế biến nông sản Việt Nam cũng đạt mức trung bình của thế giới, một số ngành hàng hoặc một số sản phẩm có công nghệ và thiết bị chế biến tương đối hiện đại mang tầm của khu vực và thế giới, như chế biến hạt điều, lúa – gạo, tôm, cá tra…

Quyền Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản phát biểu “Đóng góp của công nghiệp chế biến để làm gia tăng giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa còn nhiều hạn chế, nên việc tác động đến việc thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa mạnh. Công nghiệp chế biến NLTS chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều ngành hàng đang là “nút thắt” trong chuỗi giá trị; một số ngành hàng khâu chế biến chỉ sử dụng 5% – 10% sản lượng sản xuất ra, thể hiện rõ nhất là thịt và rau quả…”.

Về bức tranh chung và xu thế phát triển hiện nay, ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, cho biết, tiềm năng và thị trường tiêu thụ nông sản chế biến được đánh giá là còn nhiều dư địa để phát triển. Bởi theo dự báo của FAO, sự phát triển nhanh chóng của các nước đang phát triển và cả những thị trường mới nổi làm gia tăng mức tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nhất là các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Ngoài ra, Việt Nam đang thực hiện 12 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs), tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được thị trường khu vực và thế giới; xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu của Việt Nam sẽ được gia tăng nhờ phần lớn các rào cản và điều kiện trong thương mại quốc tế đã được cam kết dỡ bỏ; các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp nhận, chuyển giao khoa học công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến từ các nước phát triển.

Việt An